Phan Thị Bích Hằng

Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng

“ Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Hồi ký Phan Thị Bích Hằng - Lá số tử vi và lời tiên đoán của ông thầy đồ

Có lẽ, những lời tiên đoán của các ông thầy tử vi mà dân gian vẫn thường gọi nôm na là ông thầy tướng số sẽ chìm vào quên lãng nếu tôi không trở thành một Phan Thị Bích Hằng với những khả năng đặc biệt như hôm nay. Một Bích Hằng có thể nhìn thấy người âm. Một Bích Hằng có thể trò chuyện với thế giới vô hình. Một Bích Hằng đã tìm thấy hơn 15.000 hài cốt liệt sĩ với hơn 15.000 câu chuyện ly kỳ, huyền hoặc… 25 năm làm tâm linh, 25 năm bước chân vào thế giới huyền hoặc. Nhiều lúc ngồi hồi tưởng lại những chặng đời đã qua, điều ám ảnh tôi, đôi khi lại là những lời tiên đoán với những lá tử vi mà cha mẹ đã chấm từ khi tôi mới cất tiếng khóc chào đời. Có lá tử vi được chấm sau những lần tôi chết hụt. Có những lời tiên đoán khi tôi đã thành danh. Song ám ảnh tôi nhất vẫn là lá số đầu đời, lá số do một người đồng đội của cha tôi lập trong một đêm vằng vặc ánh trăng, dưới giao thông hào, khi cha nhận được lá thư mẹ báo tin đã sinh ra tôi vào đêm ngày 15 tháng 2 năm 1972. Người đồng đội của cha, vốn xuất thân trong một gia đình nho học nổi tiếng xứ Nghệ, vội kê tờ giấy lên chiếc ba lô bạc màu, nguệch ngoạc kẻ một hình bát quái rồi ghi kín cả một trang giấy học trò lời tiên lượng về số phận của cô bé Phan Thị Bích Hằng.

Song chiến trường khốc liệt. Bụi trường chinh cuốn cha đi. Lá số của tôi được cha gói ghém kỹ trong mấy lớp túi ni-lông đặt dưới đáy ba lô. Thấm thoắt 18 năm trôi qua. Cho đến cái ngày giông bão ập đến gia đình tôi: tôi bị chó dại cắn và bắt đầu có triệu chứng lên cơn. Trong cơn tuyệt vọng, cha sực nhớ tới lá số ấy. Vì thời gian đã trôi quá lâu, bao nhiêu bom đạn chiến tranh, bao nhiêu lo toan của cuộc sống khiến cha không nhớ nổi chi tiết của lá số. Ông chỉ nhớ duy nhất một câu: “Tôi sẽ bị thú dữ cắn”. Hai cha con vội vàng leo lên gác đựng sách, lục tìm. Khuôn mặt cha tôi rất căng thẳng. “A! Đây rồi!”. Cha reo lên mừng rỡ. Trên tay cha là một tờ giấy đã ố vàng với những nét mực cửu long nhòe nhoẹt. Trên góc tờ giấy ghi: “Bích Hằng và cung số”. Cha cầm lá số đi thẳng ra bàn. Tôi níu áo cha: “Cha cho con xem với”. Giọng cha trùng xuống: “Con không nên xem”. Tôi nài nỉ: “Cha yên tâm. Nếu tờ giấy này ghi con chết con cũng chấp nhận mà. Cha cứ cho con xem đi”. Cha nhìn tôi ái ngại rồi gật đầu miễn cưỡng. Ông run run trải tờ giấy lên bàn, khuôn mặt lộ rõ vẻ lo âu, căng thẳng. Từng chữ, từng chữ hiện lên trước mắt tôi. Cung mệnh ghi: “Số bôn ba mà nhàn. Địa không hóa quyền. Tài đảm, sau hoạch phát, có danh lợi nhưng đề phòng sau đến thân”. Lúc đó, tôi không hiểu địa không là gì, hóa quyền là gì? Rồi tiếp đến là đào hoa, thiêu riêu, thiếu dương…. và lời giải là: thông minh, tài vượt lực học, giang hồ mà sung sướng, có biệt tài… Khuôn mặt cha cứ sáng dần lên, sáng dần lên. Đôi mắt ánh lên niềm vui sướng. Tiếp đến là “đế vượng, sau thịnh phát giàu có”. “Lưu niên văn tinh” là “văn hay chữ tốt”. Rồi đến cung phụ mẫu: Liêm trinh, thất sát, tang môn. Lời giải là: khắc cha mẹ. Mẹ thọ hơn, sau có lần sinh con thiếu tháng. Rồi đến cung thân phúc: có sao thiên việt, tấu thư, đường phù. Lời giải là: nhà có ngôi mộ hình bút, phát văn, có ẩn tài phán đoán việc trừu tượng.

Lúc đó, câu phán: “Có ẩn tài phán đoán việc trừu tượng” với tôi chẳng có ý nghĩa gì cả. Và tôi cũng không hiểu tôi có ẩn tài gì, việc trừu tượng đó là gì? Tôi chỉ chăm chú nhìn xem trong tờ giấy này có viết tôi chết không? Chết vào lúc nào? Tiếp theo là cung điền trạch: Tả phù, long trì. Tức là: sau có nhà đất khang trang, được hưởng quyền thừa tự của người trong họ. Rồi chữ tử ở bên ghi là: tài dưỡng không hao, bên dưới ghi chữ tuần, và bên cạnh ghi là: không hưởng của ông cha. “Sao lâu thế hả cha? Sao không tới chỗ nói con sống hay chết?”. Ông nhìn tôi, khẽ mỉm cười, bảo: “Con không thấy trong lá tử vi ghi sau này con giang hồ sung sướng à ?”. Tôi giật nảy mình: “Cha ơi!Trai gái, đĩ bợm, lục lâm, thảo khấu thì mới gọi là giang hồ. Tại sao con lại giang hồ hả cha?”.  Lại một ánh nhìn độ lượng: “Không con ạ! Giang hồ ở đây có nhiều nghĩa lắm. Nghĩa đen và nghĩa bóng. Chút nữa rồi cha giải thích cho con hiểu”. Hai cha con chăm chú xem tiếp. Cung quan lộc ghi: Hồng loan, thai phụ, nguyệt đức. Và lời giải là: sau làm nên sung sướng.

Tiếp đến là cung nô. “Cung nô là gì hả cha?”. Tôi lại hỏi. “Là bạn bè con ạ”. Tôi nhìn thấy chữ vũ khúc, phá quân, hóa khoa, quốc ấn. Và bên cạnh ghi: bạn hay lấn mình, đề phòng làm ơn nên oán. Được người trên giúp đỡ làm nên. Nhìn xuống dưới thấy cung thiên di, ghi là: thái dương, thiên khôi, phong cáo. Hai dòng trên “thái dương, thiên khôi” có lời giải là: ra ngoài được nhiều người kính nể, giúp đỡ. Bên dưới là chữ “phong cáo” có lời giải là: “có biệt tài nổi tiếng khi ra ngoài”.

            Đến cung giải ách, tôi thấy cha dùng bút gạch chân chữ “giải ách”. Cung này ghi: thiên phủ, ốm gặp thầy gặp thuốc. Rồi tiếp theo là thiên khốc, bạch hổ, phục binh… Phòng bị người phản, phòng bị thú dữ cắn. Mở ngoặc đơn: sẽ bị thú dữ cắn. Cha tôi dừng lại, thở dài nhìn tôi. Rồi xuống cung dưới nữa là tài bạch, là thiên cơ, thái âm, tràng sinh. Rồi những tử tức, những phu, những bào… Rất nhiều, rất nhiều, tôi không đọc hết được nữa. Bởi vì tôi chỉ thấy cha tôi xem đến cung giải ách. Ông gạch bút ở dưới câu: ốm gặp thầy gặp thuốc. Cha tôi ngồi tần ngần một lúc rồi lại quay vào kho sách lục tìm tiếp. Tôi chạy theo hỏi: “Cha ơi! Con bị thú dữ cắn là con bị chó dại cắn rồi đúng không cha? Chó có phải là thú dữ không? Chỉ hổ báo trong rừng mới là thú dữ chứ. Còn chó là thú nhà cơ mà”. Cha bảo: “Chó cũng là trùng thú con ạ”. “Như vậy thì con có chết không hả cha?”. Cha tôi không nói gì cả. Một tay vẫn cầm lá số tử vi, một tay kéo tôi vào lòng, ôm chặt tôi, xoa đầu: “Con không chết được đâu con ạ. Cha sẽ tìm tiếp. Cha vẫn nhớ còn một lá số nữa viết rằng con không chết.” Nói đoạn, ông buông tôi ra lục tìm tiếp. Mắt ông chợt sáng lên khi tìm thấy một cuốn sổ, hình như là cuốn lịch trình nhật ký công tác. Bàn tay ông vội vã lật mở, lật mở. Rồi đột ngột dừng lại trước trang giấy chi chít những chữ viết bằng mực Cửu long, nhiều chỗ thấy gạch chân. Đập vào mắt tôi là dòng chữ gạch chân màu mực đỏ: năm 9 tuổi có thể bị chết đuối, chết hụt. Rồi lại tiếp tục một dòng nữa. Năm 18 tuổi, thập tử nhất sinh. Nếu sống được sẽ thành người tài, nếu không sẽ cướp cơm bố mẹ. Cha gạch đi gạch lại dòng chữ ấy, cảm giác như cào rách toang tờ giấy. Còn tôi, đứng chết lặng một hồi, mặc cho hai dòng lệ tuôn rơi. Bỗng cha quay người lại, ôm chặt lấy tôi. Hai cha con cùng bật khóc. “Cha ơi! Con không muốn chết. Cha cứu con đi”. Có người cha nào chịu đựng nổi khi nghe đứa con thân yêu của mình thốt lên những tiếng kêu cứu buốt lòng ấy? Ông ôm chặt lấy tôi, nấc lên: “Bích Hằng ơi! Sao trời bạc với con đến thế”. Thốt nhiên, cha buông tôi ra, chạy ào ra ngõ. Trời cuối đông rét cắt da cắt thịt mà cha vẫn phong phanh chiếc ao may-ô cũ kỹ. Có lẽ nỗi lo lắng, niềm khát khao tìm cách cứu sống tôi khiến cha quên cả cái lạnh đến tê người. Gió mùa đông hun hút thổi. Mặc! Cha chạy băng băng qua cánh đồng làng. Tôi nhảy vội lên xe đuổi theo cha. Nhà cụ đồ Vũ Văn Ký đây rồi. Cụ là người thông gia với ông bà ngoại tôi, vốn là bậc túc nho, nức tiếng cả làng về văn hay, chữ tốt. “Cụ ơi! Cụ làm ơn nói cho con biết, liệu cháu Hằng có làm sao không?”. Cha quỳ trước cụ, giọng van vỉ. Vẫn là cụ Ký với khuôn mặt hiền từ, tóc bạc như mây và chòm râu trắng như cước. Cụ ngồi xếp bằng trên chiếc sập gụ, im phắc, giơ những ngón tay dài, thon lên nhẩm tính. Rồi cụ quay lại nhìn cha, bảo: “Bác yên tâm về đi. Cháu Hằng không việc gì đâu. Mặt cháu tươi thế kia cơ mà. Tôi cam đoan với bác đấy. Hôm nay tôi sẽ xuống nhà bác, làm cho bác một cái lễ để cúng gia tiên và làm cho cháu một cái lễ cầu bản mệnh để bản mệnh của cháu vững vàng. Bác đừng lo lắng quá. Hãy động viên cháu”. Nói đoạn, cụ quay sang tôi, bẻ cho tôi 2 quả chuối tiêu, giọng cụ ân cần: “Cháu Hằng ngoan lắm. Cháu cứ về đi chịu khó học hành, còn phải thi đại học nữa chứ. Cứ yên tâm, rồi sẽ khỏi bệnh”. Hai cha con đi về. Những bước chân chòng chành siêu vẹo trên cánh đồng trống trải gió lạnh bốn bề. Tôi mặc áo ấm nhưng cha, vẫn chỉ độc chiếc áo may ô, vẫn ôm chặt lấy tôi cho tôi đỡ lạnh. “Con ơi, cụ đã bảo con sống rồi, chắc chắn là như vậy”. Về đến đầu xóm, cha quay lại nhìn tôi, lau nước mắt cho tôi, buộc lại tóc cho tôi và nói: “Đến giờ này mẹ đã lên lớp về rồi đấy. Con không được khóc con nhé. Hai bố con phải tươi tỉnh lên. Mẹ nhìn thấy con khóc là mẹ suy sụp đấy con ạ”.

Cha bước đến bụi dứa bên đường, cố tìm một tàu lá thật to để làm cho tôi cái chong chóng thật đẹp, mặc dù lúc đó tôi đã 17 tuổi. Cha nhìn tôi âu yếm bảo: “Bây giờ cha cắm một cái que tre vào đây. Con chỉ cần cầm lên thế này là cái chong chóng sẽ quay, con không cần phải chạy vì gió đang rất lộng”.  Tôi cầm cái chong chóng giơ lên. Những cơn gió mùa đông bắc ào ào thổi làm cho cánh chong chóng quay tít. Nhịp quay của nó nhanh chóng xua tan nỗi lo lắng trong tôi. Ngay lúc đó tôi lấy lại thăng bằng và chấn tĩnh được tinh thần. Khi đi qua cổng nhà hàng xóm, cha tôi gọi rất to, giọng dõng dạc: “Ông Tiền ơi! Ông có nhà không? Mùa này chuột béo lắm đấy ông ạ”. Chẳng là hàng xóm nhà tôi có một cụ tên là Tiền. Cụ rất thích bắt chuột vào mùa gặt tháng 10. Những con chuột béo nung núc được cụ làm thịt rồi kẹp que tre nướng. Đám trẻ chúng tôi sợ chết khiếp. Nhưng cụ thì rất thích. Cụ bảo thịt chuột đồng rất thơm. Vừa thơm vừa bổ béo. Chợt tiếng cười giòn tan của cụ bà ở cổng làm cha con tôi cũng vui lây. “Ông lão nhà tôi vừa bắt được ba con chuột đang hì hụi nướng dưới bếp kia kìa. Bác có vào làm cái đùi chuột thì làm?” rồi bà lại cười. Khuôn mặt hiền hậu của bà, mái tóc bạc như cước phất phơ bay trong gió chiều lại làm tôi nhớ đến bà nội và ngoại tôi. Tôi chợt nhớ đến giấc mơ đêm trước, bà về dắt tôi đi qua một cây cầu chòng chành bắc qua con sông ầm ào sóng thét. Đi đến giữa cầu thì bỗng dưng tôi bị trượt chân ngã. Rồi tỉnh giấc. Tự nhiên trong đầu tôi loé lên một suy nghĩ: phải chăng đó là dòng sông tử? Là cây cầu cách âm dương. Nếu như tôi vượt qua được cây cầu đó thì có thể bây giờ tôi đã đi theo bà. Nhưng tôi đã bị trượt chân, tôi đã ở lại bên này, bên bờ sinh, nghĩa là tôi vẫn được sống? Hốt nhiên, tôi vứt vèo cái chong chóng xuống ruộng, nói: “Cha ơi! Con nghĩ ra rồi. Con sẽ sống, con không chết đâu. Đúng đấy, cụ Ký nói đúng đấy. Lá số tử vi bảo con sau này rất sung sướng. Nếu như con bị chết thì sao họ lại viết: sau có tài làm nên sung sướng? Con còn nhớ viết là sau này con lấy chồng sinh con một bề. Trai hay gái đều là một bề phải không cha?”. Có lẽ sự hồn nhiên của tôi, sự lạc quan của tôi đã lan sang cha tôi. Ông bật cười bảo: “Con thông minh lắm. Đúng như vậy đấy. Phải về nói ngay với mẹ con ạ”.

Vừa thấy bóng mẹ thấp thoáng ngoài sân, cha đã chạy ra khoe: “Hôm nay anh đã tìm được lá số của con Hằng rồi em ạ. Lá tử vi bảo con mình sau này rất có tài, làm nên sung sướng giàu có. Cha mẹ được nhờ. Như vậy có nghĩa là không chết. Con nó vừa phát hiện ra đấy. Nó bảo nếu chết thì thầy tử vi còn viết thế làm gì. Lên cụ Ký cũng bảo không sao cả. Tối nay cụ sẽ xuống làm lễ”. Mẹ tôi mừng quá, cuống cuồng dựng cái xe, treo cái nón vào cột. Rồi bảo: “Anh đi ngâm gạo cho em. Em đi chợ mua thức ăn về làm mâm cơm cúng”. Nói đoạn, mẹ quầy quả lên xe đạp ra chợ. Bố vội vàng vào bếp lấy đậu đổ ra sân, lấy cái vỏ chai chạt lên cho hạt đậu vỡ đôi. Ngâm nước cho bóc tách vỏ ra để đồ xôi. Như có một luồng sinh khí mới thổi vào đại gia đình tôi. Ông nội cũng vậy. Ông săng sái lấy bát, lấy đũa, lấy chén ra lau rửa để chuẩn bị cho buổi lễ. Lúc đó, tôi có cảm giác đây là cái lễ tôi được hồi sinh trở lại, như bữa tiệc đón tôi từ cõi chết trở về. Các anh chị em tôi quần tụ đông đủ. Cả nhà tôi như đang có hội. Tất cả mọi người tất bật vào bếp nấu cơm, đồ xôi, làm gà, chuẩn bị cho mâm cơm cúng thật là thịnh soạn. Đúng 5h chiều, cụ Ký xuống, tôi chạy ào ra cổng đón cụ, lòng thấp thỏm chờ đợi một câu nói. Tôi vẫn muốn cụ nhắc lại, khẳng định thêm một lần nữa rằng: tôi sẽ sống. Như đoán biết được ý tôi, cụ bảo với cha: Đấy, hôm nay trông con bé khác hẳn hồi sáng rồi, bác thấy không? Ông đã bảo rồi mà, chắc chắn cháu sẽ sống. Con bé này thông minh sáng dạ lắm. Đời nào ông trời bất công với hai bác. Bác cứ yên tâm. Chuẩn bị nhé để ông vào lễ”. Tôi rất ngoan ngoãn. Mọi khi, mỗi lần lễ như vậy, tôi thường chạy lăng xăng. Tôi vốn là đứa hiếu kỳ, không bao giờ chịu ngồi yên một chỗ. Ngó bên này, ngó bên kia, xem tay cụ bắt quyết thế nào, xem chân cụ khoanh ra làm sao? Tôi nhòm lên sớ xem cụ viết gì, đọc được chữ gì. Có lúc tôi chăm chú ngồi vểnh tai lên nghe cụ tụng kinh. Nhưng chiều hôm đó, tôi ngồi im như một pho tượng. Hai chân chắp bằng như người ngồi thiền, hai lòng bàn tay mở ra, giống như người thu nạp năng lượng của vũ trụ. Hai mắt tôi chăm chú nhìn lên bàn thờ, nơi đó đặt hoa, quả rồi trên cùng có ảnh của bà nội tôi, có một bát hương đang bốc khói nghi ngút. Ở bên dưới, cạnh chỗ tôi ngồi có một nồi cháo nẻ cũng đang bốc hơi thơm phức. Một mâm đầy bỏng, quần áo chúng sinh, tiền vàng… Bên cạnh, cụ Ký giở quyển sách chữ Nho rất dày, lật từng trang. Một tay cụ cầm cái đũa, một tay cụ lật giấy. Sau mỗi nhịp đọc, cụ lại gõ vào cái bát nghe keng keng. Tôi thấy một không khí linh thiêng đến lạ kỳ. Rát nhiều lần cụ đã làm lễ như vậy để cầu sức khỏe cho gia đình tôi vào đầu năm nhưng chưa bao giờ tôi lại thấy không khí lễ linh thiêng, trang nghiêm đến vậy. Và trong lúc ngồi chăm chú nhìn lên bàn thờ, tôi thấy có một làn sương mờ bay qua bay lại trước bát hương rồi bay qua bay lại trước ảnh của bà tôi. Có lẽ, ngay từ lúc đó, khả năng đặc biệt của tôi bắt đầu xuất hiện. Nhưng tôi không chú tâm đến việc đó. Chỉ chú tâm đến việc mình sẽ sống hay mình phải chết? Sau này, mỗi khi hồi tưởng lại, tôi lại nhớ đến cái giây phút đó, nhớ đến màn sương bay qua bay lại hôm cụ Ký lễ cho tôi. Đó có lẽ là cái nhìn đầu tiên của tôi về thế giới tâm linh, thế giới siêu hình.

Sau khi làm lễ, cụ xin đài nhất âm nhất dương. Cả nhà tôi nín thở hồi hộp. Kỳ lạ thay, mọi khi anh trai tôi, em trai tôi cũng vậy, rất hay nghịch ngợm, chạy nô đùa ở ngoài sân, đang lễ, bố phải ra quát thì anh em mới im. Nhưng hôm đó thì im phăng phắc, có lẽ cả nhà cùng chung tâm trạng chờ đợi và đặt tất cả hy vọng vào đàn lễ mà cụ Ký đang cúng. Sau này, tôi mới hiểu, cụ Ký đã biết được số tôi như vậy. Nhưng thấy cha con tôi suy sụp , cụ muốn làm như vậy để trấn an tinh thần. Có lúc tôi nghĩ rằng cụ như một nhà tâm lý học, và cụ đã dùng một đòn tâm lý rất đúng lúc, đúng thời điểm và đòn tâm lý đó đã cứu cánh cả gia đình tôi. Khi cụ cầm đồng tiền giơ lên, nói rằng cho con xin nhất âm nhất dương. Không hiểu sao tôi lại nhập tâm đến thế câu khấn đó của cụ. Và khi cụ thả đồng tiền xuống, cả nhà tôi hồi hộp, nhìn vào đĩa đồng tiền hai mặt trắng. Cụ lại nói “Cười là tươi là tốt. Cười thế này là tốt đấy bác ạ. Để tôi xin tiếp đài nữa”. Cụ a lên một tiếng vui vẻ. “Được rồi bác ạ”. Rồi cụ nở một nụ cười mãn nguyện. Ôi! Nụ cười lúc đó của cụ mới hiền lành, phúc hậu làm sao. Tôi có cảm giác lúc đó cụ như một ông tiên. Tôi vội nhìn sang ông nội tôi, lòng chợt nghẹn đắng. Một dòng nước mắt mặn mòi lăn ra từ đôi gò má nhăn nheo của ông. Ông tôi lúc đó đã tám mấy tuổi rồi. Có lẽ ông cũng phó thác niềm tin của mình, số phận đứa cháu gái của mình vào hai đồng âm dương. Cho nên khi nhìn thấy đồng tiền nhất âm nhất dương, ông vui mừng đến trào nước mắt. Tôi chạy ra ôm lấy ông, bảo: “Ông ơi! Cháu sống rồi phải không ông?”. Ông gật đầu. Thấy vậy, cụ Ký cười khà khà bảo: “Thôi, thế là từ nay gia đình bác yên tâm nhé. Cháu Hằng lại vui vẻ rồi. Ngày mai lại lên làm cua với ông”. Hôm đó, tôi quên cả đói, không còn biết đói là gì nữa. Tôi vui sướng như điên, muốn hô to thông báo với 64 người bạn trong lớp 12A thân yêu của tôi rằng: tôi đã sống. Nhưng cái tai nạn tôi bị chó dại cắn, bị lên cơn, gia đình tôi dấu rất kín. Rất ít người biết. Nên khi tôi chạy ra sân, hét toáng lên: Huế ơi! Huế! (Huế là con ông chú của tôi), chị sống rồi, sống rồi. Chị hết điên rồi” thì mẹ chạy ào ra kéo tôi vào, bảo: “Con ơi, con đừng kêu lên, cả làng cả xóm biết đấy con ạ”. Mãi sau này tôi mới hiểu, nếu mọi người biết tôi bị chó dại cắn, biết tôi đã từng lên cơn dại, chắc chắn tôi sẽ không lấy được chồng, không ai dám lấy tôi nữa. Nói như ông nội là “sẽ không có tương lai”.  Và câu chuyện của tôi đã được bưng bít. Hàng xóm, nếu ai vô tình biết được, bố mẹ tôi đều đến cầu xin họ đừng nói ra ngoài vì nếu làm như vậy, “sau này sẽ khổ cháu”.

--------

Đón đọc kỳ sau: 

Người đàn ông trong bụi tre, nơi gò con cú và chuyện kinh hoàng nhà chú tôi.