Phan Thị Bích Hằng

Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng

“ Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng: Hành trình 20 năm tìm kiếm hàng ngàn hài cốt liệt sĩ (Kỳ 1)

Bây giờ, tên tuổi của chị đã trở nên nổi tiếng khắp trong và ngoài nước. Người ta biết đến chị, ca tụng chị với biệt tài: nhìn thấy và trò chuyện với người âm, với kỳ tích tìm được trên 15.000 hài cốt liệt sĩ với vô vàn những câu chuyện, tình tiết ly kỳ, huyền hoặc. Song có một điều ít ai biết được rằng, trước khi trở thành người có khả năng siêu phàm, một Phan Thị Bích Hằng như hôm nay, chị đã phải trải qua biết bao sóng gió, tưởng chừng như không thể vượt qua được.

KỲ 1: LÁ SỐ TỬ VI VÀ LỜI TIÊN ĐOÁN CỦA ÔNG THẦY ĐỒ

Có lẽ, những lời tiên đoán của các ông thầy tử vi mà dân gian vẫn thường gọi nôm na là ông thầy tướng số sẽ chìm vào quên lãng nếu tôi không trở thành một Phan Thị Bích Hằng với những khả năng đặc biệt như hôm nay. Một Bích Hằng có thể nhìn thấy người âm. Một Bích Hằng có thể trò chuyện với thế giới vô hình. Một Bích Hằng đã tìm thấy hơn 15.000 hài cốt liệt sĩ với hơn 15.000 câu chuyện ly kỳ, huyền hoặc… 20 năm làm tâm linh, 20 năm bước chân vào thế giới huyền hoặc. Nhiều lúc ngồi hồi tưởng lại những chặng đời đã qua, điều ám ảnh tôi, đôi khi lại là những lời tiên đoán với những lá tử vi mà cha mẹ đã chấm từ khi tôi mới cất tiếng khóc chào đời. Có lá tử vi được chấm sau những lần tôi chết hụt. Có những lời tiên đoán khi tôi đã thành danh. Song ám ảnh tôi nhất vẫn là lá số đầu đời, lá số do một người đồng đội của cha tôi lập trong một đêm vằng vặc ánh trăng, dưới giao thông hào, khi cha nhận được lá thư mẹ báo tin đã sinh ra tôi vào đêm ngày 15 tháng 2 năm 1972. Người đồng đội của cha, vốn xuất thân trong một gia đình nho học nổi tiếng xứ Nghệ, vội kê tờ giấy lên chiếc ba lô bạc màu, nguệch ngoạc kẻ một hình bát quái rồi ghi kín cả một trang giấy học trò lời tiên lượng về số phận của cô bé Phan Thị Bích Hằng.

Song chiến trường khốc liệt. Bụi trường chinh cuốn cha đi. Lá số của tôi được cha gói ghém kỹ trong mấy lớp túi ni-lông đặt dưới đáy ba lô. Thấm thoắt 18 năm trôi qua. Cho đến cái ngày giông bão ập đến gia đình tôi: tôi bị chó dại cắn và bắt đầu có triệu chứng lên cơn. Trong cơn tuyệt vọng, cha sực nhớ tới lá số ấy. Vì thời gian đã trôi quá lâu, bao nhiêu bom đạn chiến tranh, bao nhiêu lo toan của cuộc sống khiến cha không nhớ nổi chi tiết của lá số. Ông chỉ nhớ duy nhất một câu: “Tôi sẽ bị thú dữ cắn”. Hai cha con vội vàng leo lên gác đựng sách, lục tìm. Khuôn mặt cha tôi rất căng thẳng. “A! Đây rồi!”. Cha reo lên mừng rỡ. Trên tay cha là một tờ giấy đã ố vàng với những nét mực cửu long nhòe nhoẹt. Trên góc tờ giấy ghi: “Bích Hằng và cung số”. Cha cầm lá số đi thẳng ra bàn. Tôi níu áo cha: “Cha cho con xem với”. Giọng cha trùng xuống: “Con không nên xem”. Tôi nài nỉ: “Cha yên tâm. Nếu tờ giấy này ghi con chết con cũng chấp nhận mà. Cha cứ cho con xem đi”. Cha nhìn tôi ái ngại rồi gật đầu miễn cưỡng. Ông run run trải tờ giấy lên bàn, khuôn mặt lộ rõ vẻ lo âu, căng thẳng. Từng chữ, từng chữ hiện lên trước mắt tôi. Cung mệnh ghi: “Số bôn ba mà nhàn. Địa không hóa quyền. Tài đảm, sau hoạch phát, có danh lợi nhưng đề phòng sau đến thân”. Lúc đó, tôi không hiểu địa không là gì, hóa quyền là gì? Rồi tiếp đến là đào hoa, thiêu riêu, thiếu dương…. và lời giải là: thông minh, tài vượt lực học, giang hồ mà sung sướng, có biệt tài… Khuôn mặt cha cứ sáng dần lên, sáng dần lên. Đôi mắt ánh lên niềm vui sướng. Tiếp đến là “đế vượng, sau thịnh phát giàu có”. “Lưu niên văn tinh” là “văn hay chữ tốt”. Rồi đến cung phụ mẫu: Liêm trinh, thất sát, tang môn. Lời giải là: khắc cha mẹ. Mẹ thọ hơn, sau có lần sinh con thiếu tháng. Rồi đến cung thân phúc: có sao thiên việt, tấu thư, đường phù. Lời giải là: nhà có ngôi mộ hình bút, phát văn, có ẩn tài phán đoán việc trừu tượng.

Lúc đó, câu phán: “Có ẩn tài phán đoán việc trừu tượng” với tôi chẳng có ý nghĩa gì cả. Và tôi cũng không hiểu tôi có ẩn tài gì, việc trừu tượng đó là gì? Tôi chỉ chăm chú nhìn xem trong tờ giấy này có viết tôi chết không? Chết vào lúc nào? Tiếp theo là cung điền trạch: Tả phù, long trì. Tức là: sau có nhà đất khang trang, được hưởng quyền thừa tự của người trong họ. Rồi chữ tử ở bên ghi là: tài dưỡng không hao, bên dưới ghi chữ tuần, và bên cạnh ghi là: không hưởng của ông cha. “Sao lâu thế hả cha? Sao không tới chỗ nói con sống hay chết?”. Ông nhìn tôi, khẽ mỉm cười, bảo: “Con không thấy trong lá tử vi ghi sau này con giang hồ sung sướng à ?”. Tôi giật nảy mình: “Cha ơi!Trai gái, đĩ bợm, lục lâm, thảo khấu thì mới gọi là giang hồ. Tại sao con lại giang hồ hả cha?”. Lại một ánh nhìn độ lượng: “Không con ạ! Giang hồ ở đây có nhiều nghĩa lắm. Nghĩa đen và nghĩa bóng. Chút nữa rồi cha giải thích cho con hiểu”. Hai cha con chăm chú xem tiếp. Cung quan lộc ghi: Hồng loan, thai phụ, nguyệt đức. Và lời giải là: sau làm nên sung sướng.

Tiếp đến là cung nô. “Cung nô là gì hả cha?”. Tôi lại hỏi. “Là bạn bè con ạ”. Tôi nhìn thấy chữ vũ khúc, phá quân, hóa khoa, quốc ấn. Và bên cạnh ghi: bạn hay lấn mình, đề phòng làm ơn nên oán. Được người trên giúp đỡ làm nên. Nhìn xuống dưới thấy cung thiên di, ghi là: thái dương, thiên khôi, phong cáo. Hai dòng trên “thái dương, thiên khôi” có lời giải là: ra ngoài được nhiều người kính nể, giúp đỡ. Bên dưới là chữ “phong cáo” có lời giải là: “có biệt tài nổi tiếng khi ra ngoài”.

Đến cung giải ách, tôi thấy cha dùng bút gạch chân chữ “giải ách”. Cung này ghi: thiên phủ, ốm gặp thầy gặp thuốc. Rồi tiếp theo là thiên khốc, bạch hổ, phục binh… Phòng bị người phản, phòng bị thú dữ cắn. Mở ngoặc đơn: sẽ bị thú dữ cắn. Cha tôi dừng lại, thở dài nhìn tôi. Rồi xuống cung dưới nữa là tài bạch, là thiên cơ, thái âm, tràng sinh. Rồi những tử tức, những phu, những bào… Rất nhiều, rất nhiều, tôi không đọc hết được nữa. Bởi vì tôi chỉ thấy cha tôi xem đến cung giải ách. Ông gạch bút ở dưới câu: ốm gặp thầy gặp thuốc. Cha tôi ngồi tần ngần một lúc rồi lại quay vào kho sách lục tìm tiếp. Tôi chạy theo hỏi: “Cha ơi! Con bị thú dữ cắn là con bị chó dại cắn rồi đúng không cha? Chó có phải là thú dữ không? Chỉ hổ báo trong rừng mới là thú dữ chứ. Còn chó là thú nhà cơ mà”. Cha bảo: “Chó cũng là trùng thú con ạ”. “Như vậy thì con có chết không hả cha?”. Cha tôi không nói gì cả. Một tay vẫn cầm lá số tử vi, một tay kéo tôi vào lòng, ôm chặt tôi, xoa đầu: “Con không chết được đâu con ạ. Cha sẽ tìm tiếp. Cha vẫn nhớ còn một lá số nữa viết rằng con không chết.” Nói đoạn, ông buông tôi ra lục tìm tiếp. Mắt ông chợt sáng lên khi tìm thấy một cuốn sổ, hình như là cuốn lịch trình nhật ký công tác. Bàn tay ông vội vã lật mở, lật mở. Rồi đột ngột dừng lại trước trang giấy chi chít những chữ viết bằng mực Cửu long, nhiều chỗ thấy gạch chân. Đập vào mắt tôi là dòng chữ gạch chân màu mực đỏ: năm 9 tuổi có thể bị chết đuối, chết hụt. Rồi lại tiếp tục một dòng nữa. Năm 18 tuổi, thập tử nhất sinh. Nếu sống được sẽ thành người tài, nếu không sẽ cướp cơm bố mẹ. Cha gạch đi gạch lại dòng chữ ấy, cảm giác như cào rách toang tờ giấy. Còn tôi, đứng chết lặng một hồi, mặc cho hai dòng lệ tuôn rơi. Bỗng cha quay người lại, ôm chặt lấy tôi. Hai cha con cùng bật khóc. “Cha ơi! Con không muốn chết. Cha cứu con đi”. Có người cha nào chịu đựng nổi khi nghe đứa con thân yêu của mình thốt lên những tiếng kêu cứu buốt lòng ấy? Ông ôm chặt lấy tôi, nấc lên: “Bích Hằng ơi! Sao trời bạc với con đến thế”. Thốt nhiên, cha buông tôi ra, chạy ào ra ngõ.

(Còn nữa)